diện tích của malaysia

Malaysia: 330.803 km2. Philippines: 300.000 km2. Singapore: 704 km2. Thái Lan: 513.120 km2. Việt Nam: 331.212 km2. Nam Á. Là khu vực được nhắc đến như tiểu lục địa của Ấn Độ. Khu vực Nam Á bao gồm các quốc gia với diện tích như sau: Afghanistan: 652.090 km2. Bangladesh: 147.998 km2. Bhutan: 38.394 km2. Việc liên kết góp phần tăng số lượng thành viên, nâng diện tích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, sản lượng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ra thị trường mà cụ thể là mặt hàng rau, củ, quả từ 1.000 tấn/năm tăng lên đến 5.000 tấn/năm. Khi nông dân liên kết với HTX Nam miền Bắc. SVVN - Quán quân Fitness Model Thanh Nhi chính thức đại diện Việt Nam vừa lên đường sang Malaysia chinh chiến tại cuộc thi Hoa hậu Châu Á Toàn Cầu - Miss Asia Global 2022. Có mặt tại sân bay từ sáng sớm, những người anh thân quý của Thanh Nhi trong nhà Fitness Model là Kết quả của "Phân tích lợi ích và chi phí" của Malaysia cho thấy với CPTPP, tổng thương mại của nước này được dự báo tăng lên 655,9 tỷ USD vào năm 2030. Email: bbt@moit.gov.vn - Điện thoại:(024) 22202108 - Fax: (024) 22202525. Ghi rõ nguồn "Cổng thông tin điện tử Bộ Công MITI cho hay, báo cáo phân tích chi phí-lợi ích về CPTPP dự tính tổng kim ngạch thương mại của Malaysia sẽ tăng lên 655,9 tỷ USD vào năm 2030 thông qua hiệp định này. Nguồn: Vietnam+. CPTPP là hiệp định thương mại tự do loại bỏ 95% thuế quan giữa 11 thành viên. Bộ trưởng Trà cũng cho rằng, hạn chế nhất của Bắc Ninh là yếu tố diện tích, bởi tỉnh này chỉ có 822,7 km2, nhưng dân số lại đạt tiêu chí; các tiêu buycastpaleads1982. Đôi nét về đất nước, con người và lịch sử Đất nướcLiên bang Malaysia là một quốc gia không lớn lắm, nằm ở trung tâmĐông Nam Á, có diện tích tương đương với Việt Nam là km2. Đâylà quốc gia có hình dạng lưỡi liềm nằm gần đường xích đạo – giữa tọa độ1o– 7o vĩ Bắc và trải dài từ 100ođến 119 o kinh đông. Lãnh thổ Malaysiađược chia làm hai phần miền Tây và miền Đông Malaysia. Miền Tây cònđược gọi là phần bán đảo nằm trên bán đảo Melaka có diện tích chiếm 40% diện tích cả nước, bao gồm 11 bang Perlis, Kedah,Penang, Perak, Selangor, Melaka, Johor, Negeri Sembilan, Pahang,Trengganu và Kelantan. Hiện nay, ở các bang miền Tây có trên 50% dân sốlà cư dân bản địa nói tiếng Melayu Malay, hay các ngôn ngữ cùng họMelayu khác. Trong số cư dân bản địa đó, người Melayu chiếm tới trên90%. Do đó, các bang miền Tây thường được gọi là các bang Melayu và từnăm 1963 trở về trước Malaysia được gọi là Malaya. Vùng lãnh thổ phíaĐông của Malaysia bao gồm 2 bang là Sabah và Sarawak nằm ở phía Bắcđảo Kalimantan hay còn gọi là đảo Borneo với diện tích km2chiếm 60% diện tích cả nước. Hai vùng lãnh thổ này của Malaysia đượcchia cắt bởi vùng biển thuộc Thái Bình Dương. Malaysia có chung biên giớivới các quốc gia khác trong cùng khu vực Phía Bắc là Thái Lan, phía Namlà Singapore, còn ở phía Đông thì có chung biên giới với Indonesia vàBrunei. Là quốc gia hải đảo nên Malaysia có đường bờ biển khá dài, trí địa lý của Malaysia vô cùng quan trọng, không chỉ nằm trêntuyến đường biển nối liền các trung tâm kinh tế Âu – Á mà còn có ý nghĩađặc biệt trong việc hình thành quốc gia đa dân tộc, là nơi gặp gỡ và giao lưucủa nhiều nền văn minh cổ đại, nhất là nền văn minh Ấn Độ; là nơi dừng8 chân của các thương gia Ấn Độ, Trung Quốc, các đế quốc ở Trung CậnĐông và đế quốc La Mã ngay từ những thế kỷ đầu công địa hình, lãnh thổ Malaysia thuộc loại hình không bằng phẳng. Ởvùng bán đảo, núi thường không cao khoảng 1000-2000m và đồng bằngduyên hải cũng không rộng. Các dãy núi thường bị đứt đoạn và tập trung chủyếu ở miền Bắc và miền Trung. Về phía Nam, địa hình có phần thấp hơn. Ởđây có dãy núi Kerbau cao Dãy núi này kéo dài từ phía Thái Lan vàchia lãnh thổ Malaysia thành 2 phần từ Bắc xuống Nam. Phần phía Đôngrộng hơn phần phía vùng phía Đông, địa hình được kiến tạo nhiều đồi núi. Các dãy núiở đây thường trải dài từ phía Tây Bắc hướng xuống phía Đông Nam. Ở phíaĐông Bắc thuộc lãnh thổ bang Sabah có đỉnh núi Kinabalu cao làđỉnh núi cao nhất ở Malaysia. Đồng bằng duyên hải ở đây thấp, nhiều nơisình có nhiều sông ngòi. Do đặc điểm của lãnh thổ và địa hìnhnên sông ngòi ở đây đều ngắn. Ở vùng phía Tây có các con sông chính làPahang dài 320 km, Perak 270 km, Kelantan, Johor. Vùng phía ĐôngMalaysia, ở Sarawak có các sông Rajing 560 km, Baram 500 km, Lupar227 km và nhiều con sông khác. Còn ở Sabah có con sông lớn nhất làKinabatangan 560 km chảy ra biển gần đường xích đạo nên khí hậu Malaysia chịu ảnh hưởng củagió mùa nóng, ẩm quanh năm, với độ ẩm không khí khá cao. Nhiệt độ trungbình từ 250C đến 280C với mức dao động hàng tháng không đáng kể 1,40C,độ ẩm trung bình là 80%. Lượng mưa hàng năm ở vùng duyên hải bán đảoMelaka từ – mm, còn ở vùng núi là – mm; Ở vùngBắc Kalimantan, lượng mưa trung bình hàng năm có ít hơn. Malaysia có 29 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, bị chi phối bởi gió mùa Đông Bắc từtháng 10 đến tháng 4 và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng hậu nhiệt đới đã đem lại cho Malaysia một thế giới thực vật vôcùng phong phú. Có đến 70% diện tích lãnh thổ của Malaysia là rừng nhiệtđới xanh tốt quanh năm. Giới thực vật có đến loài, trong đó có thân cây cứng cho nhiều loại gỗ có giá trị công nghiệp cạnh hệ thực vật phong phú, động vật ở Malaysia cũng hết sức đadạng. Ngoài những giống tiêu biểu như gấu Malay, tê giác hai sừng, ở đâycòn có nhiều loài thú khác như voi, các loại hổ, báo, trăn, rắn và gần 500loại chim mặt thổ nhưỡng, Malaysia chủ yếu là đất đỏ và laterit, thích hợpcho nhiều loại cây trồng có giá trị cao, đặc biệt là cao su. Đã từ lâu, hình ảnhvề những dãy đồn điền cao su xanh bạt ngàn là những cảnh sắc quen thuộcvà đặc trưng của Malaysia. Bên cạnh cây cao su, Malaysia còn có nhiều loạicây công nghiệp quan trọng khác như dầu cọ, dừa... Những năm gần đây,chúng đóng vai trò không nhỏ trong quá trình chuyển dịch kinh khác, có thể nói, thiên nhiên cũng ưu đãi cho đất nước này nhiềutài nguyên quý giá. Bên cạnh dầu mỏ, hơi đốt, ở đây còn có sắt, boxit,manggan, vàng và đặc biệt là thiếc. Trữ lượng thiếc lớn khoảng tấn,đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và luôn đứng ở hàng chủ đạo trong khuvực về sản lượng khai Con người và lịch sử MalaysiaMalaysia là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và nhiều nền vănhóa. Thành phần dân tộc của Malaysia tương đối phức tạp. Người Malay bao10 gồm người bản xứ với tên gọi theo tiếng Melayu là Bumiputera và những cưdân lâu đời ở đây như các tộc người Semang, Senoi, Jakun ở bán đảoMelaka, Dusue, Marut, Iban, Katasan...ở Bắc Kalimantan. Về cơ bản,Malaysia gồm ba cộng đồng dân tộc chính cộng đồng người Malay gồmbản thân người Malay và các tộc người bản địa khác, cộng đồng người Hoavà cộng đồng người Ấn. Giữa các tộc người này có sự khác biệt trong sinhhoạt cũng như trong hoạt động kinh lúc đa phần người bản địa làm nghề nông, sống tập trung ở cácbang nông nghiệp lạc hậu về kinh tế như Kedah, Kalantan, Trenganu, Perliscũng như ở các vùng nông nghiệp lạc hậu khác ở Sarawak và Sabah, nằmdải theo thung lũng các con sông và vùng duyên hải ở phía bắc và đông bắcbán đảo Melaka thì đa phần cư dân người Hoa lại sinh sống ở phía tây vàphía nam bán đảo Melaka và ở các thành phố lớn, các trung tâm khai thácthiếc. Người Hoa không những chỉ là những nhà tư sản cỡ lớn và vừa nắmgiữ nhiều xí nghiệp, hầm mỏ, công ty vận tải, ngân hàng, các đồn điền caosu... mà còn chiếm số đông trong giai cấp vô sản công nghiệp và khaikhoáng. Họ có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia. Cộng đồng ngườiẤn ở Malaysia thì sinh sống cả ở vùng nông thôn lẫn thành thị, nhưng vùngtập trung chính là ở bờ biển phía tây – nơi có nhiều đồn điền cao su. NgườiẤn có đại diện trong tầng lớp đại, trung và tiểu tư sản, nhiều người trong sốhọ là công nhân, phu đồn điền, nông dân.... Tuy vậy, vai trò của họ khônglớn so với người Malay và người Hoa. Hơn nữa, so với người Hoa, ngườiẤn có phần hòa nhập với cư dân bản địa mạnh hơn nhờ một phần ngườiIslam trong cư dân người Ấn đồng hóa với người tôn giáo, ở Malaysia có nhiều tôn giáo khác nhau. Nếu như hầu hếtngười Malay theo Islam thì đa phần người Hoa theo Phật giáo hay Đạo giáo,người Ấn theo Hindu giáo, một số khác theo Phật giáo và đạo Sikh. Trong11 cộng đồng người Hoa và người Ấn cũng có một bộ phận rất nhỏ theo này, Thiên chúa giáo cũng có mặt ở đây và nó có ảnh hưởng chủ yếu ởmột bộ phận người Châu Âu, người dân địa phương ở Sarawak và Sabahcũng như ở một bộ phận người Hoa và người Ấn. Ở Malaysia, Islam đượccoi là quốc giáo và tiếng Melayu Bahasa Melayu được coi là ngôn ngữchính thức của quốc gia. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, các ngônngữ khác như tiếng Hoa, tiếng Tamil, tiếng Anh cũng được sử dụng khá nay, ở đất nước này, ngoài những thành phần dân tộc chính hợpthành cư dân Malaysia như đã trình bày ở trên, còn có nhiều người nướcngoài đang sinh sống và làm việc tại đây trong các lĩnh vực khác điều này đã góp phần tạo nên một bức tranh đa dạng về tộc người, vềvăn hóa, về tôn giáo và ngôn ngữ ở Malaysia, số người giàu chiếm khoảng 19% dân cư toàn lên dân có mức sống trung bình, đủ sức tự lo cho mình đầy đủ các nhu cầuthiết yếu của cuộc sống chiếm tỷ lệ 60% dân số, còn lại khoảng 21% là dânnghèo, thu nhập thấp, không đủ trang trải mọi nhu cầu tối thiểu về ăn, ở, họchành, thuốc men khi đau ốm. Do đó, trong chiến lược phát triển quốc gia đếnnăm 2020, chính phủ Malaysia buộc phải có những biện pháp thích hợp đểgiải quyết vấn đề này, có nghĩa là làm sao để giảm thiểu tỷ lệ dân nghèoxuống mức thấp nhất và tăng tỷ lệ người khá giả. Và chính phủ Malaysia đãchọn biện pháp đẩy nhanh quá trình đô thị, xây dựng các khu dân cư mới,phát triển các hệ thống giao thông, giải tỏa các khu xóm lao động sống chậtchội, nghèo khổ. Chính phủ đã yêu cầu các công ty kinh doanh muốn đầu tưđịa ốc, kinh doanh hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông... phải xây dựngnhững khu nhà ở mới, đầy đủ tiện nghi cho dân nghèo về ở, đồng thời phảicó được dự án tốt đảm bảo cho các hộ đến chỗ ở mới có được nguồn thu12 nhập ổn định cao hơn ở nơi cư trú cũ. Các công ty khi đảm bảo hội đủ cácđiều kiện đó thì mới được chính phủ phê duyệt, đồng ý cho giải tỏa nhà dânđể xây dựng các đô thị hay khu công nghiệp ra, chính phủ còn yêu cầu các công ty, nhà máy chuyên sảnxuất các thiết bị điện tử, đồ chơi hàng ngày, phải sản xuất đủ máy lạnh, tủlạnh, truyền hình màu, điện thoại...với tiêu chuẩn chất lượng tương đối tốt vàquan trọng là giá rẻ chỉ bằng 50% giá thị trường để trang bị cho các căn hộmới xây. Chính phủ trích từ ngân sách để trả tiền cho các công ty, nhà máyvề số hàng hóa và miễn thuế về lô hàng này cho họ. Chính phủ còn áp dụnghình thức cho các hộ mua vay trả góp toàn bộ căn hộ và các tiện ích bêntrong. Do vậy, khi đến thăm Malaysia, chúng ta rất khó nhận thấy sự chênhlệch về mức sống giữa người giàu và người dù là liên bang nhưng Malaysia không theo chế độ cộng hòa màtheo mô hình quân chủ lập hiến, nghĩa là nước có vua cai trị nhưng quyềnlực tối cao không nằm trong tay vua mà là Hiến pháp. Hiến pháp đầu tiêncủa nhà nước Malaysia độc lập Hiến pháp năm 1957 quy định Vua Yangdi – Pertuan Agong là người đứng đầu Liên bang, hay đứng đầu Nhà nướcđược bầu lên từ những người đứng đầu các tiểu vương quốc Sultan theonhiệm kỳ 5 năm. Trước đây, nhà Vua có quyền bác bỏ các dự luật, có thểgiải tán nghị viện, nhưng theo Hiến pháp sửa đổi năm 1994 thì quyền hạncủa Vua bị hạn chế và chỉ đóng vai trò cố vấn cho Thủ tướng. Nhà Vua lậpra Hội đồng cai trị gồm những người đứng đầu các bang. Hội đồng làm thammưu trong việc bầu Hội đồng thẩm phán, Hội đồng bầu cử, Ủy ban côngvụ... Nghị viện của Malaysia tổ chức theo lưỡng viện, gồm có thượng việnvà hạ viện. Thượng viện có 69 thành viên, trong đó có 40 người là nhữngngười đứng đầu các đơn vị hành chính bang thường do Vua chỉ định và 29người được bầu từ các bang. Mỗi bang được chọn ra 2 nghị sĩ làm thành13 viên của Hội đồng lập pháp với nhiệm kỳ 3 năm. Hạ viện hay Viện dân biểugồm 192 thành viên được lựa chọn từ các khu vực bầu cử trong nước vớinhiệm kỳ 5 năm. Nhà Vua có thể giải tán Hạ viện sớm hơn nếu như có yêucầu của Thủ tướng chính phủ. Người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng đượcnhà Vua bổ nhiệm người của đảng nào có nhiều ghế nhất trong Hạ viện. Thủtướng lập ra Hội đồng bộ trưởng. Hiện nay, Malaysia có 25 bộ trưởng trongNội các chính phủ. Người đứng đầu 9 tiểu vương quốc miền Tây Malaysiatheo chế độ cha truyền con nối được tham gia lựa chọn Vua cho toàn nướcMalaysia. Còn 4 thống đốc bang gồm Sarawak, Sabah, thành phố Melaka vàđảo Penang, do nhà Vua chỉ định, không được bầu làm Malaysia, Tổ chức tộc người Malay thống nhất gọi tắt là UMNOlà đảng phái chính trị mạnh nhất, có uy tín nhất và là hạt nhân chính trongmặt trận quốc gia một liên minh chính trị giữa UMNO, Hiệp hội người HoaMalaysia và Đại hội người Ấn đang cầm quyền tại quốc gia này hơn mộtthập kỷ qua. Hạt nhân chính của Mặt trận quốc gia nói chung, của UMNOnói riêng là tầng lớp trí thức và các nhà doanh nghiệp. Dưới thời cầm quyềncủa Thủ tướng Mahathir, Mặt trận quốc gia – liên minh cầm quyền giữa tríthức người Malay bản địa với các thương gia người Hoa trở nên chặt chẽ vàcó hiệu quả hơn. Đây là một đặc điểm chính trị hết sức nổi bật, có tác độngsâu sắc đến sự phát triển kinh tế và liên kết dân tộc ở Malaysia trong 2 thậpkỷ qua. Đối lập với Mặt trận quốc gia là Đảng Islam toàn Malaysia PIM vàĐảng Dân chủ hành động Malaysia DAP. PIM đấu tranh vì một xã hộiMalaysia Islam, bào trừ các sắc tộc không phải là Islam và cư dân bản thì lại đấu tranh vì một xã hội dân chủ theo mô hình các nước Bắc năm gần đây, hai đảng phái đối lập này phát triển khá mạnh, đặc biệtlà DAP. Tuy nhiên, nhìn chung, chế độ chính trị của Liên bang Malaysiatrong mấy chục năm qua là tương đối ổn định. Sự liên kết ngày càng gia tăng14 giữa các đảng phái chính trị, giữa các tộc người trên nền tảng cùng có lợi vàcùng phát triển là xu hướng chủ đạo trong đời sống kinh tế, chính trị củaMalaysia. Đây là một trong những yếu tố then chốt giúp Malaysia hòa hợpvà phát triển, đi đến chủ nghĩa tư bản hiện đại ở nước lịch sử, trước khi thực dân phương Tây xâm chiếm và cai trị, tạiđất nước này đã từng tồn tại và chứng kiến sự thịnh vượng của các tiểuvương quốc Islam. Islam đã chiếm được địa vị độc tôn, trở thành quốc đạotừ thế kỷ XV và nơi đây cũng trở thành trung tâm truyền bá Islam lớn nhất ởĐông Nam Á. Sang đầu thế kỷ XVI 1511 thực dân Bồ Đào Nha đánhchiếm thành phố Melaka và cai trị ở đây hơn một thế kỷ. Đến năm 1641, HàLan liên minh với tiểu vương quốc Johor cướp lại thành phố Melaka từ tayBồ Đào Nha. Nhưng đến những năm 80 của thế kỷ XVII, thực dân Anh đãchiếm lại thành phố Melaka và đảo Penang. Cùng với đảo Penang vàSingapore, Melaka trở thành Cụm cư dân vùng eo biển thuộc Anh. Đến cuốithế kỷ XIX, toàn bộ Malaysia ngày nay đã trở thành thuộc địa của sách khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu mà thực dân Anhthi hành đã không làm cho nước này trở thành một nước có nền kinh tế pháttriển. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp chiếm tới40% tổng thu nhập nội địa GDP, khu vực chế biến, chế tạo chỉ chiếm hơn10%. Hầu hết những ngành kinh tế chủ đạo có khả năng xuất khẩu nhưngành xuất khẩu thiếc, cao su, dầu cọ, dừa, chè...đều do tư bản Anh chiến tranh thế giới lần thứ II, Malaysia bị Nhật chiếm đầu, sự xuất hiện của quân đội Nhật đã gặp phải sự phản kháng mạnhmẽ của nhân dân Malaya. Tuy nhiên, do chính sách “chia để trị” của quânphiệt Nhật mà các cộng đồng cư dân của Malaya đã không thống nhất đượclực lượng để kháng Nhật, thậm chí còn nhen nhóm lòng hận thù và đố kị lẫn15 nhau, đặc biệt là giữa người Melayu và người Hoa. Vì vậy, họ đã không đưacuộc kháng chiến của mình đến thắng lợi hoàn tranh kết thúc, tháng 9 năm 1945, dưới danh nghĩa giải giápquân đội Nhật, quân đội Anh đã chiếm lại Malaya. Họ đã mau chóng tiếnhành các biện pháp nhằm ổn định tình hình và lập kế hoạch thành lập mộtthể chế chính trị mới ở Malaya, gọi là Liên hiệp Malaya. Cuối tháng 1 năm1946, bất chấp mọi sự phản đối của mọi tầng lớp nhân dân Malaya, chínhphủ Anh đã tuyên bố “ Sách trắng”, trong đó có đề cập đến Hiến pháp củaLiên hiệp Malaya. Liên hiệp Malaya bao gồm 9 bang Melayu, Penang vàMelaka, còn Singapore được công bố là thuộc địa riêng của Anh. Nhữngngười đứng đầu các bang Melayu giữ nguyên địa vị của mình nhưng thựcchất chủ quyền nằm trong tay người Anh. Các công dân Liên hiệp Malayađều có quyền bình đẳng, không phân biệt thành phần dân tộc và tôn nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức dân tộc thống nhất MelayuUMNO, nhân dân Malaya đã đấu tranh quyết liệt, do đó kế hoạch thành lậpLiên hiệp Malaya của Anh đã không thành hiện thực. Cuối cùng, vào năm1948, tất cả các bang Melayu và Cụm dân cư eo biển được thống nhất thànhLiên bang Malaya dưới sự bảo hộ của Anh, theo sự thỏa thuận giữa Anh vàcác nhà lãnh đạo Melayu và 1957, Liên bang Malaya trở thành quốc gia độc lập, là thànhviên của Khối thịnh vượng chung thuộc Anh British Commonwealth ofNation.Năm 1963, Liên Bang Malaysia ra đời, bao gồm Liên bang Malaya,Singapore, Sabah và Sarawak với thủ đô là Kuala Lumpur thuộc bangSelangor. Đến năm 1965, Singapore tách khỏi Liên bang, trở thành quốcgia độc lập. Năm 1974, bang Sabah trao đảo Labuan cho chính phủ Liênbang. Kuala Lumpur và Labuan trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc16 Liên bang, gọi là Lãnh thổ Liên bang. Như vậy, hiện nay Liên bangMalaysia bao gồm 13 bang Johor, Kedah, Kelantan, Melaka, NegeriSembilan, Pahang, Perlis, Perak, Pulau Pinang, Sabah, Sarawak, Selangor,Trengganu và phần lãnh thổ Liên bang Kuala Lumpur và Labuan. Các tộc người chính ở MalaysiaLà một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và nhiều nền văn hóa,Malaysia thực sự là một điểm đến với tên gọi là “ Châu Á thu nhỏ”. Đếnvới đất nước này, người ta sẽ thấy được sự kết hợp đa dạng của ba nền vănhóa cổ xưa nhất Châu Á, đó là văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ với nềnvăn hóa bản địa của cư dân Malay. Có rất nhiều người đến từ những quốcgia khác đã chọn Malaysia là nơi học tập, làm việc và kinh doanh. ỞMalaysia có sự hài hòa khi Bahasa Melayu là quốc ngữ nhưng tiếng Anh,tiếng Quan Thoại và tiếng Tamil vẫn được sử dụng rộng rãi. Islam là quốcgiáo nhưng Hiến pháp thừa nhận sự tự do thờ bái và tín ngưỡng đối với tấtcả các tộc người. Các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Ấn giáo, Phậtgiáo và những tôn giáo khác cũng được người dân sùng bái tự do. Chính sựnhấn mạnh về việc chia sẻ quyền lợi giữa những nhóm chủng tộc, đảm bảosự chung sống dung hòa trong xã hội đa sắc tộc, chính phủ Malaysia đã làmmọi người biết đến đất nước mình như một quốc gia kiểu mẫu về hòa bìnhvà ổn Tộc người MalayNhắc tới các tộc người ở Malaysia, trước tiên chúng ta phải nhắc đếntộc người bản địa Malay. Đây là tộc người lớn nhất tại thể nói, nhìn bề ngoài, việc nhận ra người Malay là không khó. Họcó làn da nâu, thân hình vừa phải nhưng dẻo dai và có tính cách ôn hòa, nhẹ17 nhàng. Với mệnh danh là “ đứa con của đất” – bumiputera, cộng đồng Malaychiếm khoảng ½ dân số bán đảo với 57% năm 2008 [ nhiên, trong những văn cảnh khác nhau, thuật ngữ “Malay” ở đâycó nhiều ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, trong định nghĩa có tính chất vănhóa và xã hội rộng khắp, thuật ngữ trên không chỉ đề cập đến những ngườisống ở Peninsula bán đảo mà còn bao gồm cả những người sống ở khu vựclớn hơn của quần đảo Malay, gồm Peninsula và hàng nghìn hòn đảo khácmà ngày nay tạo nên lãnh thổ của Indonesia và Philippin. Mặc dù họ đượcchia thành nhiều tộc người khác nhau nhưng các chuyên gia văn hóa và ngônngữ luôn coi họ là cùng một dòng giống, đó là cộng đồng Malay hay Malayo– Indonesians. Quả thực, thế giới Malay bao phủ cả một vùng rộng lớn vàcộng đồng người Malay đã tạo nên một trong số những nhóm chủng tộcchính trên thế giới [61,5]. Với sự đa dạng như vậy, ở đây người viết chỉ xinđược nói tới cộng đồng Malay sống ở Malay ở đây là những người theo Islam, nói tiếng Malay, tuânthủ các truyền thống Malay và có tổ tiên là người Malay. Trong quá khứ, họlà những người có tinh thần yêu nước, gắn bó với mảnh đất của mình, họcũng là những người sống yên phận, dễ dàng hài lòng với những gì mình có,yêu hòa bình và không thích giành giật, bon chen. Thêm nữa, họ có bản tínhđôn hậu, hào hiệp và biết ơn. Họ sẵn sàng đùm bọc, kết bạn và giúp đỡnhững người Hoa anh em [18, 279]. Trong lịch sử, họ cùng với những ngườiHoa nhập cư đã anh dũng chống lại quân Bồ Đào Nha, Hà Lan, cũng nhưchống lại ách thống trị của thực dân Anh. Tuy nhiên, sự lớn mạnh về kinh tếcủa người Hoa sau này đã thực sự làm cho người Malay lo sợ. Họ sợ rằng họsẽ trở thành phái yếu ngay trên mảnh đất quê hương của mình, do đó, họ đã18

diện tích của malaysia